Kinh nghiệm quốc tế

Thị trường điện tại Singapore

Quá trình cải tổ ngành điện của Singapore bắt đầu tiến hành từ năm 1995, qua nhiều bước phát triển

     Tính đến 31/7/2008, tổng công suất đặt hệ thống điện Singapore là 10.453MW, trong đó CCGT chiếm trên 52% công suất đặt, nhiệt điện dầu chiếm 43%. Cơ cấu nguồn điện của Singapore năm 2001 và 2008 được thể hiện trong hình dưới đây:

     Công suất của các đơn vị phát điện chính tham gia vào thị trường điện năm 2008 được thể hiện trong hình vẽ:

     Tốc độ tăng trưởng phụ tải giai đoạn 2003-2008 của Singapore ở mức thấp, khoảng 4%/năm.

Năm

Nhu cầu điện năng

Nhu cầu công suất đỉnh

Tăng trưởng GDP

GWh

Tăng trưởng

MW

Tăng trưởng

2003

35.331

1,9 %

5.139

1,7 %

3,5 %

2004

36.810

4,2 %

5.279

2,7 %

9,0 %

2005

38.213

3,8 %

5.475

3,7 %

7,3 %

2006

39.442

3,2 %

5.624

2,7 %

8,2 %

2007

41.314

4,3 %

5.946

5,7 %

7,7 %

2008

-

-

-

-

-

      Lộ trình cải tổ ngành điện và các cơ sở pháp lý:

     Quá trình cải tổ ngành điện của Singapore bắt đầu tiến hành từ năm 1995, qua nhiều bước phát triển, cụ thể như sau:

Tháng 10/1995:

Thành lập Uỷ ban quản lý ngành điện và khí để chuẩn bị cho việc xây dựng thị trường điện

Năm 1996:

Bắt đầu thực hiện thiết kế thị trường SEP

Tháng 04/1998:

Bắt đầu vận hành thị trường điện bán buôn  Singapore Electricity Pool (SEP). Trong đó Công ty lưới điện quốc gia thực hiện chức năng vận hành thị trường và hệ thống điện.

Tháng 03/2000:

Chính phủ thực hiện tiếp bước tái cơ cấu ngành điện, trong đó thực hiện tách sở hữu giữa đơn vị trực tiếp tham gia thị trường với các đơn vị không tham gia thị trường; thành lập đơn vị vận hành hệ thống điện độc lập và cho phép tự do hoá việc cạnh tranh trong bán lẻ điện.

Tháng 04/2001:

Thành lập cơ quan điều tiết năng lượng EMA để thực hiện chức năng điều tiết về công nghiệp khí và điện.

Tháng 07/2001:

Bắt đầu tự do hoá trong cạnh tranh bán lẻ điện, với 250 khách hàng có công suất tiêu thụ 2MW trở lên được quyền chọn đơn vị cung cấp điện.

Tháng 01/2003:

Thành lập cơ quan vận hành thị trường điện NEMS, thực hiện chức năng vận hành thị trường bán buôn điện được thiết kế mới, trong đó các đơn vị phát điện chào giá cho mỗi chu kỳ giao dịch 30’ vào thị trường.

Tháng 06/2003:

Thực hiện giai đoạn 1 của việc tự do trong cạnh tranh bán lẻ điện, trong đó các khách hàng có sản lượng điện bình quân hàng tháng từ 20.000 kWh trở lên tham gia thị trường

Tháng 12/2003:

Thực hiện giai đoạn 2 của việc tự do trong cạnh tranh bán lẻ điện, trong đó các khách hàng có sản lượng điện bình quân hàng tháng từ 10.000 kWh trở lên tham gia thị trường

Tháng 01/2004:

Áp dụng hợp đồng về sản lượng cam kết (vesting contract) để hạn chế việc lũng đoạn thị trường của các đơn vị phát điện lớn.

Tháng 03/2006:

Hoàn thành giai đoạn 2 của việc tự do hoá thị trường bán lẻ điện, với 10.000 khách hàng lớn tham gia thị trường, chiếm 75% tổng sản lượng của toàn Singapore

Tháng 03/2008:

Bán phần vốn nhà nước do Tập đoàn Temasek quản lý tại Tuas Power cho Tập đoàn Huaneng Trung Quốc; Senoko Power chi Lion Consortium; PowerSeraya cho YTL Power

     Cấu trúc ngành điện, chức năng của các đơn vị

     a. Cơ quan điều tiết thị trường năng lượng - EMA

     Các chức năng. nhiệm vụ chính của EMA:

     · Bảo đảm cung cấp điện năng ổn định, chất lượng với mức giá điện hợp lý cho khách hàng;

     · Thực hiện chức năng điều tiết về kinh tế và kỹ thuật;

     · Thúc đẩy nâng cao hiệu quả trong công nghiệp điện;

     · Đưa ra khuôn khổ điều tiết về kinh tế trong công nghiệp điện, thúc đẩy sự cạnh tranh, minh bạch và hiệu quả, ngăn ngừa việc làm dụng vị thế độc quyền và quyền lực thị trường.

     · Cơ quan vận hành hệ thống điện là một bộ phận trực thuộc EMA (Ban vận hành hệ thống điện) thực hiện chức năng điều độ hệ thống, đảm bảo hệ thống điện vận hành ổn định, tin cậy.

     b. Công ty vận hành thị trường điện - EMC

     Chức năng nhiệm vụ chính của EMC là:

     · Điều hành giao dịch thị trường điện và đảm bảo cung cấp thông tin cho các đơn vị tham gia thị trường điện.

     · Thực hiện quản trị thị trường điện – Market Administration.

     · Thực hiện báo cáo đánh giá vận hành thị trường điện.

     EMC là một công ty cổ phần, trong đó cơ quan điều tiết EMA sở hữu 51% và các đơn vị tham gia thị trường sở hữu 49%.

     EMC được cấp giấy phép hoạt trong trong 10 năm, thực hiện các chức năng lập lịch huy động và thanh toán trên thị trường.

     c. Công ty cung cấp dịch vụ thị trường - MSSL

     MSSL là một đơn vị cung cấp các dịch vụ cho thị trường bao gồm: thanh toán với khách hàng; đọc công tơ và quản lý dữ liệu đo đếm; cung cấp các dịch vụ cho khách hàng mới; lập hóa đơn và thanh toán phí truyền tải; bán điện cho các khách hàng nhỏ và gián tiếp bán điện cho khách hàng lớn.

     d. Tổng Công ty lưới điện quốc gia

     SP PowerAssets sở hữu toàn bộ lưới điện Singapore, có chức năng vận hành vào bảo dưỡng lưới điện.

     đ. Các đơn vị phát điện

     Singapore có 6 đơn vị phát điện tham gia thị trường, với thị phần như sau: Senoko Power (29,7%); PowerSeraya (27,5%); Tuas Power (24,5%); SembCorp (9,5%); Keppel (6,4%); NEA (2,4%). Các đơn vị phát điện thực hiện cạnh tranh bán điện trên thị trường, ký hợp đồng vesting contract với MSSL và hợp đồng với các khách hàng lớn.

     e. Các đơn vị bán lẻ điện

     Tại Singapore có 5 đơn vị bán lẻ điện, trong đó có 4 đơn vị phát điện và một công ty cung cấp dịch vụ thị trường điện (MSSL), với các tỷ trong sản lượng như sau: MSSL (37,4%); Senoko Energy Supply (17,9%); Seraya Energy (18,5%); Tuas Power Supply (14,4%); SembCorp Power (8,9%); Keppel Electric (2,9%);

     Các đơn vị bản lẻ điện thực hiện cạnh tranh bán điện trực tiếp cho các khách hàng sử dụng điện lớn (sản lượng bình quân trên 10.000kWh/tháng) thông qua các hợp đồng. Đối với các khách hàng nhỏ, chỉ duy hất công ty MSSL được quyền cung cấp theo biểu giá bán lẻ điện thống nhất toàn quốc.

     Mô hình và cơ chế vận hành thị trường NEMS

     a. Mô hình thị trường điện NEMS

     b. Cơ chế vận hành thị trường NEMS

NEMS là thị trường toàn phần (Gross pool), chào giá ngày tới với chu kỳ giao dịch là nửa giờ. Trong thị trường NEMS, các đơn vị phát điện cạnh tranh chào giá để bán điện vào thị trường. Các khách hàng tiêu thụ lớn có quyền mua điện từ thị trường hoặc mua điện từ đơn vị bán lẻ điện thông qua hợp đồng.

Hàng ngày, căn cứ vào bản chào giá điện năng và dịch vụ, dự báo phụ tải của PSO, EMC có trách nhiệm lập lịch huy động điện năng và dịch vụ điều tần, dự phòng quay cho cho các tổ máy trong mỗi chu kỳ giao dịch dựa trên phương pháp đồng tối ưu điện năng và dịch vụ phụ có xét đến các ràng buộc hệ thống điện.

Năm phút trước mỗi chu kỳ giao dịch, EMC có trách nhiệm công bố giá thị trường, lịch huy động điện năng và dịch vụ phụ làm căn cứ cho đơn vị vận hành hệ thống PSO điều độ các tổ máy.

     c. Cơ chế giá điện theo hợp đồng và thị trường giao ngay

     -  Giá điện theo hợp đồng (Vesting Contract)

     Vesting Contract là hợp đồng mua bán điện giữa các công ty phát điện và Công ty dịch vụ điện lực Singapore MSSL. Nội dung các hợp đồng vesting bao gồm cả sản lượng và giá điện do EMA điều tiết. Các hợp đồng này nhằm 2 mục đích chính là: i) hạn chế khả năng lũng đoạn thị trường của các đơn vị phát điện lớn bao gồm Senoko Power, Power Seraya và Tuas Power, và ii)  đảm bảo để Công ty MSSL bán điện cho các khách hàng đang được điều tiết (non-contestable consumers) theo mức giá ổn định, không biến động theo giá thị trường giao ngay.

     Giá các hợp đồng vesting (S$/MWh) được MSSL tính toán điều chỉnh hàng quý để áp dụng cố định cho quý tới, bằng giá biên dài hạn (LRMC) của 1 tổ máy CCGT chuẩn, hoạt động hiệu quả nhất. Tổ máy CCGT do EMA xác định và phê chuẩn. Trong tính toán LRMC của tổ máy này, các biến động quá khứ trên thị trường về giá nhiên liệu cũng như chi phí đầu tư được cặp nhật thường xuyên. Giá hợp đồng vesting theo quý áp dụng tại Singapore từ đầu năm năm 2008 như trong bảng sau:

Đơn vị: Đô la Singapore/MWh

Q1-2008

Q2-2008

Q3-2008

Q4-2008

Q1-2009

Q2-2009

161,80

174,44

183,25

238,64

167,14

115,26

     Về sản lượng các hợp đồng vesting, EMA đã xây dựng và công bố một lộ trình giảm dần sản lượng điện ký qua các hợp đồng Vesting của các công ty phát điện theo độ mở của thị trường bán lẻ cạnh tranh và khả năng hạn chế lũng đoạn thị trường của thị trường bán buôn NEMS. Lộ trình dự kiến như bảng sau:

Năm

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Tỷ lệ ký HĐ

65%

50%

50%

50%

50%

40%

40%

40%

40%

40%

     Tuy nhiên, thực tế thực hiện cho thấy các hợp đồng vesting chiếm trung bình 65% tổng phụ tải trong giai đoạn từ 2004 đến giữa 2007, và 55% - từ giữa 2007 đến nay.

     Sản lượng điện theo hợp đồng của các công ty phát điện được phân bổ theo tỷ lệ thuận với công suất khả dụng. Sản lượng hợp đồng theo giờ phụ thuộc vào các chu kỳ phụ tải cao, thấp điểm và bình thường, với trọng số tương ứng là 1,14; 0,81 và 1, tương đương các mức 63%, 45% và 55%.

     - Giá điện trên Spot Market

     Trong thị trường NEMS áp dụng dụng các loại giá sau:

     -  Giá nút.

     -  Giá bình quân hệ thống.

     -  Giá công suất dự phòng.

     -  Giá công suất điều tần.

     Các mức giá điện trên được xác định trên thị trường theo chu kỳ nửa giờ, dựa trên các bản chào giá của phía phát điện và nhu cầu tải của hệ thống.

     Giá nút (nodal price) là giá biên xác định cho từng nút trên lưới truyền tải, có thể khác nhau, phản ánh mức độ hạn chế công suất tải điện và tổn thất điện năng trên đường dây. Giá nút được áp dụng để thanh toán cho lượng điện năng phát các công ty phát điện, và tạo tín hiệu địa điểm cho các nhà đầu tư.

     Giá bình quân hệ thống (Uniform Singapore Energy Price – USEP) là giá trị bình quân gia quyền của giá tại các nút phụ tải, áp dụng cho bên mua điện, đảm bảo tính bình đẳng cho tất cả các khách hàng của NEMS.

     Giá công suất dự phòng và công suất điều tần được tính toán theo phương pháp đồng tối ưu với giá năng lượng (giá nút).

     Tuy vậy, mức giá USEP bình quân trong năm 2008 là 162 S$/1MWh, tăng 30% so với năm 2007. Tuy vậy giá thị trường đã giảm mạnh vào các tháng cuối năm 2008, đầu năm 2009, đạt mức bình quân thấp nhất là 70 đô la trong tháng 12 năm 2008.

     Giá thị trường giao ngay cho phép dao động (chu kỳ ½ giờ) tới mức trần cao nhất là 5.000 Singapore đô la/MWh. Giá bình quân ngày cao nhất được ghi nhận trong năm 2008 là 477 Singapore đô la/MWh, vào thời điểm từ 17 đến 22 tháng 5 khi phụ tải ở mức cao và một loạt các tổ máy CCGT bị sự cố.

     d.  Kết quả vận hành thị trường NEMS

     Với khoảng 5 năm vận hành, thị trường điện cạnh tranh NEMS cho thấy một số  các kết quả và xu hướng sau:

     -  Sự biến động của giá thị trường điện gắn liền với yếu tố nền tảng là quan hệ cung cầu.

     -  Thị trường điện lực chịu ảnh hưởng trực tiếp từ biến động giá nhiên liệu sơ cấp, cụ thể là biến động giá dầu trong giai đoạn 2003-2008.

     -  Công nghệ phát điện CCGT được sử dụng nhiều hơn, thay thế cho các tổ máy chạy dầu. Cụ thể, các công ty Senoko Power và Power Seraya đã thực hiện hoặc có kế hoạch thực hiện việc cải tạo các tua-bin hơi chạy dầu thành các tổ máy sử dụng khí.

     -  Mở rộng cạnh tranh trong phát điện sau khi có đầu tư nguồn mới vào năm 2007 mới, Công ty Keppel Merlimau với công suất 470 MW.

     -  Hệ thống văn bản quy định và cơ sở hạ tầng phục vụ vận hành thị trường tiếp tục hoàn thiện, phát triển. Đặc biệt quan trọng là quá trình điều chỉnh liên tục quy định  thị trường điện và nâng cấp hệ thống IT.

     -  Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh cũng được phát triển song song với thị trường bán buôn, thông qua việc mở rộng đối tượng, phạm vi các khách hàng sử dụng điện được quyền mua điện trực tiếp từ NEMS hoặc lựa chọn nhà cung cấp bán lẻ trên thị trường. Tỷ trọng về phụ tải của các khách hàng đang được điều tiết hiện nay chỉ còn 25% với khoảng 1,2 triệu khách hàng nhỏ. Nói cách khác, thị trường bán lẻ đã được mở tới 75%.

Tác giả: Phòng TTĐL. ; xuất bản: 25/07/2014 01:59
Họ tên của bạn
Địa chỉ Email  
Tiêu đề
Nội dung
Mã xác nhận
Gửi nhận xét