Bộ Công Thương - Cục điều tiết điện lực

Thứ sáu, 31/05/2024 | 02:48 GMT +7

  • facebook | 024.221.47474

Phát triển năng lượng

Từ dự án đầu tiên hướng đến hiện thực hóa mục tiêu 22.400 MW nhiệt điện LNG

24/08/2023
Dự án LNG đầu tiên tại Việt Nam - Kho LNG 1 triệu tấn Thị Vải đã hoàn thành quá trình chạy thử, sẵn sàng cho vận hành thương mại, mở ra một lĩnh vực mới cho ngành công nghiệp khí Việt Nam. Thành công của dự án sẽ đóng vai trò quan trọng cho việc mở đường, thúc đẩy các dự án tiếp theo trong lĩnh vực này, hướng tới hiện thực hóa mục tiêu về LNG trong chiến lược năng lượng quốc gia, góp phần thực hiện cam kết đưa phát thải ròng về 0 vào năm 2050.
Sẵn sàng đưa LNG ra thị trường
Chuỗi dự án Kho cảng LNG Thị Vải được chính thức khởi công vào ngày 28/10/2019, trải qua quá trình xây dựng với nhiều thử thách, toàn bộ chuỗi dự án đã được hoàn thiện và đưa vào chạy thử từ ngày 10/7/2023, hoàn thành công tác chạy thử các quá trình chính vào ngày 30/7/2023.
Hệ thống Kho cảng LNG Thị Vải hiện là tổ hợp LNG lớn nhất Việt Nam. “Trái tim” của hệ thống chính là Kho chứa LNG hoàn thành giai đoạn 1 có sức chứa 180.000m3 LNG, với công suất qua kho là 1 triệu tấn LNG/năm; giai đoạn 2 hiện đang được triển khai để nâng công suất lên 3 triệu tấn LNG/năm. Bên cạnh đó còn có, cảng nhập LNG có khả năng tiếp nhận tàu LNG trọng tải đến 100.000 tấn, trạm xuất LNG bằng xe bồn, đường ống dẫn khí LNG Thị Vải-Phú Mỹ, trạm giảm áp Thị Vải,...
Kho cảng LNG Thị Vải
Hệ thống kho cảng LNG Thị Vải sẽ là mắt xích quan trọng trong việc cung cấp khí tái hóa, đảm bảo duy trì cung cấp khí cho các khách hàng hiện hữu và các dự án nhà máy điện mới theo “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp khí Việt Nam giai đoạn đến năm 2025, định hướng đến năm 2035” đã được Thủ tướng phê duyệt. Dự kiến, kho cảng LNG Thị Vải sẽ bổ sung nguồn cung khoảng 1,4 tỷ m3 khí cấp cho các khách hàng tiêu thụ và bù đắp một phần cho lượng khí thiếu hụt trong nước sau năm 2023.
Đối với nhu cầu LNG, đến năm 2030 để đáp ứng cho 13 dự án nhiệt điện LNG với tổng công suất đạt 22.400 MW theo Quy hoạch điện VIII cần tổng công suất kho chứa có thể cung cấp được khoảng 15 – 18 triệu tấn LNG/năm.
Lãnh đạo PV GAS cho biết, quá trình chạy thử kho LNG Thị Vải 1 triệu tấn đạt được mọi tiêu chí, yêu cầu đề ra, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người và thiết bị; hoàn thành trước kế hoạch gần 3 ngày; việc tiếp nhận LNG từ chuyến tàu nhập LNG đầu tiên đến Việt Nam cũng “về đích sớm” trước 2 ngày; lượng khí xả đốt để làm sạch bồn và đường ống chỉ hơn 30% so với lượng xả đốt theo kế hoạch… Kết quả này đã chứng tỏ chuỗi dự án được triển khai, thi công chuẩn chỉnh, đạt mọi thông số về chất lượng, an toàn và tiết kiệm chi phí.
Đến nay, có thể khẳng định chuyến hàng LNG đầu tiên đã được nhập khẩu và vận hành chạy thử thành công và đã cung cấp cho thị trường tính đến 31/7/2023 đạt 20 triệu m3 LNG. Tuy nhiên, để đảm bảo thành công dự án, giai đoạn tiếp theo rất cần chính sách để thúc đẩy việc đưa LNG ra thị trường, với mục tiêu không chỉ là cung cấp cho các khách hàng công nghiệp, nhà máy điện khí LNG hình thành trong tương lai mà cho các nhà máy điện khí hiện hữu trong bối cảnh nguồn khí nội địa đang bị thiếu hụt do suy giảm nhanh chóng qua từng năm trong khi kế hoạch phát triển các nguồn khí mới chậm hơn dự kiến.
Tổng quan từ năm 2015 đến nay, sản lượng khí cấp khí cho điện đạt cao nhất là 8,8 tỷ m3/năm, trong đó khu vực Đông Nam bộ là 7,3 tỷ m3/năm và Tây Nam bộ là 1,5 tỷ m3/năm. Tuy nhiên, nguồn khí nội địa cho sản xuất điện đang suy giảm mạnh, năm 2023 khí cấp cho sản xuất điện khu vực Đông Nam bộ còn khoảng 4,3 tỷ m3/năm vầ Tây Nam bộ còn khoảng 1,4 tỷ m3/năm. Dự báo đến năm 2030 khí cấp cho sản xuất điện khu vực Đông Nam bộ chỉ còn khoảng 1 tỷ m3/năm và Tây Nam bộ chỉ còn khoảng 0,6 tỷ m3/năm.
Thực hiện mục tiêu 22.400 MW nhiệt điện LNG đến năm 2030?
Theo Quy hoạch điện VIII, cơ cấu nguồn điện khí trong nước và LNG đến năm 2030 sẽ đạt 37.330 MW, tương ứng 24,8% tổng công suất nguồn điện, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu nguồn điện (trong đó nhiệt điện khí trong nước là 14.930 MW, chiếm 9,9% và nhiệt điện LNG là 22.400 MW, chiếm 14,9%).
Với cơ cấu như trên cùng với định hướng đến năm 2050 không còn sử dụng than cho phát điện thì vai trò chạy nền của các nhà máy điện khí trong hệ thống điện là điều tất yếu vì là nguồn điện duy nhất không bị ảnh hưởng bởi thời tiết so với thủy điện, điện gió và điện mặt trời. Ngoài ra, lợi thế của các nhà máy điện khí là tính sẵn sàng cao, công suất lớn với dải điều chỉnh rộng, thời gian đáp ứng nhanh, giảm thiểu phát thải khí nhà kính, cũng như giảm thiểu khí gây ô nhiễm. Do đó, việc đưa LNG vào sử dụng còn phù hợp với cam kết của Chính phủ tại COP26 và xu hướng sử dụng nhiên liệu giảm phát thải.
Tuy nhiên, để đảm bảo thành công của dự án LNG đầu tiên, cũng như hướng tới hiện thực hóa các mục tiêu điện khí LNG trong Quy hoạch điện VIII là một vấn đề thách thức, đặc biệt đầu tiên là các cơ chế chính sách để đưa được nguồn LNG ra thị trường, cung cấp cho các nhà máy điện, đảm bảo hiệu quả đầu tư. Để làm được điều này cần có những cơ chế, quy định cho việc định giá và tiêu thụ khối lượng LNG nhập khẩu của các nhà máy điện trong nước.
Bà Nguyễn Thị Thanh Bình – Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn T&T nhận định, mục tiêu của Quy hoạch điện VIII đạt 22.400 MW điện khí LNG vào năm 2030 là một thách thức rất lớn về tiến độ, đặc biệt là công việc đàm phán hợp đồng mua bán điện. Hiện các nhà máy đều mong muốn có một tỉ lệ cam kết về sản lượng điện hợp đồng ở mức hợp lý để phù hợp với khả năng huy động vốn cho thực hiện dự án và thu hồi được chi phí đầu tư.
Công trường Dự án Nhà máy Điện Nhơn Trạch 3 và 4
Để việc triển khai nhập khẩu LNG sản xuất điện đáp ứng nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh tế đất nước thì các chính sách cho ngành công nghiệp LNG cần hết sức quan tâm, định hướng đồng bộ và xuyên suốt bao gồm phát triển hạ tầng LNG, cơ chế chuyển ngang giá khí LNG tái hóa từ hợp đồng mua bán khí sang hợp đồng mua bán điện, phê duyệt cước phí qua kho và đường ống đưa LNG đến nhà máy điện, nguyên tắc phân bổ LNG đến nhà máy điện, nguyên tắc phân bổ LNG nhập khẩu cùng với các nguồn khí nội địa cho các nhà máy điện.
Đối với nhu cầu LNG, đến năm 2030 để đáp ứng cho 13 dự án nhiệt điện LNG với tổng công suất đạt 22.400 MW theo Quy hoạch điện VIII cần tổng công suất kho chứa có thể cung cấp được khoảng 15 – 18 triệu tấn LNG/năm, trong khi đó hiện nay chỉ duy nhất dự án kho chứa LNG tại Thị Vải với công suất 1 triệu tấn LNG/năm được đưa vào vận hành và đang triển khai giai đoạn 2 nâng công suất. Thực tế triển khai dự án kho chứa LNG tại Thị Vải cho thấy cần rất nhiều thời gian và nguồn lực để giải quyết và vượt qua những khó khăn về kinh tế, kỹ thuật của dự án, đặc biệt là một dự án tiên phong, các khung pháp lý về kỹ thuật, cơ chế chính sách còn chưa hoàn thiện.
Theo thông tin sơ bộ, để cung cấp khí LNG tái hóa cho các nhà máy điện LNG theo quy hoạch điện VIII, các chủ đầu tư chủ yếu dự kiến sẽ hợp tác đầu tư, xây dựng các kho cảng LNG riêng biệt, gắn liền với dự án điện. Các chuyên gia cho rằng, việc này sẽ dẫn đến công tác đầu tư các kho cảng LNG rời rạc, phân tán nguồn lực xã hội, ảnh hưởng đến lợi ích tổng thể quốc gia và khả năng chậm tiến độ khi triển khai các dự án kho cảng LNG với số lượng lớn; do đó, cần thiết xem xét triển khai các kho LNG theo mô hình kho cảng LNG trung tâm, cung cấp cho các nhà máy điện vệ tinh. Đây được cho sẽ là phương án tối ưu về chi phí cho tất cả các khâu bao gồm mua nguồn LNG, đầu tư hạ tầng, phân phối và truyền tải, góp phần giảm giá thành sản xuất điện, tận dụng tối ưu tài nguyên diện tích cảng biển và mặt nước cho các mục đích khai thác và phát triển kinh tế khác.
Chính sách cho ngành công nghiệp LNG cần hết sức quan tâm, định hướng đồng bộ và xuyên suốt bao gồm phát triển hạ tầng LNG, cơ chế chuyển ngang giá khí LNG tái hóa từ hợp đồng mua bán khí sang hợp đồng mua bán điện, phê duyệt cước phí qua kho và đường ống đưa LNG đến nhà máy điện, nguyên tắc phân bổ LNG đến nhà máy điện, nguyên tắc phân bổ LNG nhập khẩu cùng với các nguồn khí nội địa cho các nhà máy điện.
Theo Petrotimes

Cùng chuyên mục

  • 0
  • 0

giá điện sinh hoạt

Mức sử dụng trong tháng Giá (đồng/kWh)
Bậc 1: Cho kWh từ 0 - 50 1.806
Bậc 2: Cho kWh từ 51 - 100 1.866
Bậc 3: Cho kWh từ 101 - 200 2.167
Bậc 4: Cho kWh từ 201 - 300 2.729
Bậc 5 Cho kWh từ 301 - 400 3.050
Bậc 6: Cho kWh từ 401 trở lên 3.151