[In trang]
Chuyển đổi sử dụng nhiên liệu sạch: Hướng tới nền sản xuất phát thải thấp
Chủ nhật, 07/04/2024 - 06:21
Việc chuyển đổi nguồn than đầu vào của các cơ sở sản xuất sử dụng hệ nồi hơi sang các nguồn nhiên liệu sạch hơn sẽ giúp giảm phát thải khí nhà kính.
Cơ hội chuyển đổi rất lớn
Chia sẻ tại buổi Tọa đàm “Vai trò của viên nén trong chuyển đổi nhiên liệu nồi hơi – Hướng tới nền sản xuất phát thải thấp tại Việt Nam”, do Chi hội Viên nén (Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam), Hội Khoa học kỹ thuật Nhiệt Việt Nam và Tổ chức Forest Trends tổ chức ngày 5/4, ông Trần Văn Lượng - Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật nhiệt Việt Nam – cho biết, trong sản xuất công nghiệp tại Việt Nam nồi hơi công nghiệp được sử dụng để cấp nhiệt, hơi, nước nóng cho các ngành: Công nghiệp nhẹ (dệt may, giầy da, nhựa, thuốc lá, thực phẩm, rượu, bia, nước giải khát, thủy sản, chế biến nông nghiệp...); công nghiệp nặng (hóa chất cơ bản, phân bón, tuyển khoáng, thuốc trừ sâu, sản xuất đường, sản xuất cao su... ). Các loại nhiên liệu sử dụng cho nồi hơi là điện, dầu, khí, than, biomass (vỏ trấu, dăm gỗ, mùn cưa, viên nén gỗ…).

Viên nén gỗ (Ảnh: Nguyễn Hạnh)
Việt Nam chưa có một thống kê đầy đủ, chính thức về số lượng nồi hơi công nghiệp. Tuy nhiên, ông Trần Văn Lượng cho hay, theo thông tin từ nguồn các tổ chức kiểm định nồi hơi hàng năm và đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về lao động, ước tính tại Việt Nam có khoảng 9.000 nồi hơi công nghiệp đang hoạt động.
Nhiều cơ sở này sử dụng nguồn than đá để vận hành hệ thống nồi hơi. Việc chuyển đổi nguồn than đầu vào của các cơ sở này sang các nguồn nhiên liệu sạch hơn có tiềm năng lớn trong việc giảm phát thải ở quy mô quốc gia.
Trong khi đó, ngành hàng viên nén Việt Nam nói chung và viên nén gỗ nói riêng phát triển rất mạnh trong những năm vừa qua. Các phế phụ phẩm của ngành gỗ như cành củi, ngọn cây, mùn cưa, dăm bào... được đưa vào sản xuất viên nén. Khoảng 95% lượng viên nén sản xuất tại Việt Nam (khoảng 5 triệu tấn) được sử dụng để xuất khẩu, chủ yếu sang thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc. Viên nén xuất khẩu được sử dụng làm nhiên liệu đầu vào, thay thế một phần cho lượng than đá hiện đang được sử dụng để sản xuất điện tại các quốc gia này.
Khoảng 5% tổng lượng cung viên nén hiện đang được sử dụng nội địa, chủ yếu đưa vào hệ thống nồi hơi của các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ. Nhiều cơ sở đã và đang thực hiện việc chuyển đổi này nằm trong chuỗi cung toàn cầu, ví dụ, các nhà cung ứng cho các hãng hàng lớn như Adidas, Nike, Samsung... Một số cơ sở nằm trong các khu công nghiệp nơi có các cam kết về phát thải thấp, chuyển đổi xanh...
Theo ông Trần Văn Lượng, cơ hội đối với doanh nghiệp chuyển đổi nồi hơi đốt than sang biomass là giảm phát thải khí nhà kính, đáp ứng yêu cầu về môi trường, góp phần thực hiện cam kết của chính phủ Việt Nam; cơ hội tham gia thị trường carbon nội địa trong tương lai. Đồng thời, xây dựng hình ảnh doanh nghiệp sản xuất xanh, nâng khả năng cạnh tranh sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế.
Thách thức không ít
Tuy lợi ích việc sử dụng viên nén thay than dầu đã rõ, song thách thức hiện nay đối với doanh nghiệp chuyển nồi hơi đốt sang biomass cũng không ít. Đó là doanh nghiệp thiếu vốn đầu tư cho việc chuyển đổi; thiếu các tiêu chuẩn, quy chuẩn về chế tạo nồi hơi đốt biomass; năng lực thiết kế, chế tạo của nhiều nhà chế tạo nồi hơi còn hạn chế.
Tọa đàm: "Vai trò của viên nén trong chuyển đổi nhiên liệu nồi hơi – Hướng tới nền sản xuất phát thải thấp tại Việt Nam"
Bên cạnh đó, chi phí đầu tư mới cao, chi phí cho phần cải tạo và chi phí do dừng sản xuất là các doanh nghiệp cần tính đến khi thực hiện chuyển đổi. Một trong những thách thức nữa là thị trường carbon nội địa chưa hình thành nên chưa tạo thành động lực cho doanh nghiệp.
Ông Trần Văn Lượng cho rằng, cần tăng cường nâng cao nhận thức cho người sử dụng nồi hơi của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ về kiến thức sử dụng năng lượng hiệu quả, phát thải thấp, hướng tới tham gia thị trường carbon khi thị trường carbon vận hành. Cùng với các quy chuẩn, tiêu chuẩn về nồi hơi đốt nhiên liệu sinh khối cần có cơ chế chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp công nghiệp chuyển đổi nồi hơi đốt nhiên liệu hóa thạch sang đốt sinh khối.
Theo ông Tô Xuân Phúc – Chuyên gia phân tích chính sách - Tổ chức Forest Trends, Chính phủ Việt Nam cam kết mạnh mẽ với mục tiêu mức phát thải Net zero vào năm 2050. Để đạt mục tiêu này Chính phủ đã ban hành một số cơ chế, chính sách; trong đó có Nghị định 06/2022/NĐ-CP yêu cầu các cơ sở sản xuất có mức phát thải cao cũng như các bộ, ngành phải giảm phát thải khí nhà kính. Chính phủ đang thiết kế các cơ chế chính sách cần thiết để xây dựng thị trường tín chỉ carbon trong nước. Với cam kết Net zero của Chính phủ, dư địa cho việc sử dụng viên nén tại thị trường nội địa rất lớn.
Theo một số doanh nghiệp xuất khẩu gỗ, ngành viên nén gỗ có cơ hội mở rộng thị trường khi cầu tiêu thụ tại Việt Nam bắt đầu có tín hiệu tăng nhanh, bởi Chính phủ đang nỗ lực thực hiện các cam kết giảm phát thải khí nhà kính và sử dụng năng lượng sạch, bao gồm viên nén nhằm thay thế than trong sản xuất năng lượng. Đặc biệt, nhu cầu tiêu thụ viên nén tại Nhật Bản sẽ tiếp tục tăng và có thể mở rộng gấp ba lần cho tới năm 2024 - 2025. Nếu năng lực sản xuất của Việt Nam được giữ nguyên ở mức hiện tại, cung cầu mặt hàng này sẽ cân bằng trong 2 - 3 năm tới.
Tuy nhiên, ngành này đòi hỏi chất lượng sản phẩm phải có chứng chỉ FSC và dù điều này có thể đạt được thông qua hình thức hợp tác giữa các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu với các hộ trồng rừng để tạo nguồn gỗ chứng chỉ. Thế nhưng, việc mất cân đối cung cầu, nguyên liệu đầu vào chưa được kiểm soát chặt chẽ về chất lượng và pháp lý, kiểm soát thị trường đầu ra sản phẩm còn nhiều khó khăn...
Một số hoạt động của ngành vẫn còn mang tính tự phát và hiện chưa có các thiết chế cần thiết nhằm điều chỉnh sự phát triển của ngành. Do vậy, dù có nhiều tiềm năng xuất khẩu, nhưng việc sản xuất viên nén gỗ cũng đặt ra những khó khăn và thách thức trong quản lý chất lượng, đầu ra sản phẩm cũng như bảo đảm nguồn nguyên liệu không bị cạn kiệt trong tương lai.
Năm 2023, kim ngạch xuất khẩu viên nén gỗ của nước ta đạt 4,6 triệu tấn với tổng giá trị xuất khẩu gần 680 triệu USD.
Theo Báo Công Thương