Bộ Công Thương - Cục điều tiết điện lực

Thứ năm, 20/06/2024 | 06:53 GMT +7

  • facebook | 024.221.47474

Phát triển năng lượng

Quy hoạch điện 8: Từ nghị quyết đến đòi hỏi thực tiễn

21/05/2023
Quy hoạch điện 8 (QHĐ 8) là bản quy hoạch được dày công nghiên cứu, cân chỉnh trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi sang phát triển xanh, phù hợp với các cam kết trong Cop 26 là không thể đảo ngược.
Bắt đầu từ ngày 8/7/2020, Bộ Công Thương đã tổ chức hội thảo quốc tế lần thứ nhất để nghe Viện năng lượng – Cơ quan tư vấn lập đề án - trình bày về phương pháp luận, dự báo phát triển kinh tế và các kịch bản đưa vào xem xét để xây dựng QHĐ 8.
Sau nhiều cuộc hội thảo trong nước và quốc tế, với hơn 10 lần trình phê duyệt sửa đổi, ngày 15/5/2023 QHĐ 8 chính thức được thông qua.
Quá trình xây dựng và dự thảo QHĐ 8 đã nhận được quan tâm đông đảo không chỉ các ban bộ ngành, doanh nghiệp, chuyên gia trong nước mà còn có sự quan tâm đặc biệt của các doanh ngiệp FDI, chuyên gia và cộng đồng quốc tế.
QHĐ 8 được ra đời trong bối cảnh xu hướng “Năng lượng tái tạo đã được cộng đồng thế giới định hình là năng lượng cho tương lai”, phát triển sản xuất gắn với chuyển đổi năng lượng công bằng, chuyển đổi xanh và giảm thiểu phát thải.

Quy hoạch điện 8 là bản quy hoạch được dày công nghiên cứu.
Xu thế không thể đảo ngược của năng lượng tái tạo
Xin điểm lại một số điểm nhấn mục tiêu trong QHĐ 8 mới được Chính phủ ban hành.
Quy hoạch điện VIII đặt ra mục tiêu bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Cung cấp đủ nhu cầu điện trong nước, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội với mức tăng trưởng GDP bình quân khoảng 7%/năm (trong giai đoạn 2021 -2030), khoảng 6,5 - 7,5%/năm trong (giai đoạn 2031 - 2050).
Phấn đấu đến năm 2030 có 50% các tòa nhà công sở và 50% nhà dân sử dụng điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu (phục vụ tiêu thụ tại chỗ, không bán điện vào hệ thống điện quốc gia).
Quy hoạch điện VIII được phê duyệt nhất quán quan điểm: Điện là ngành hạ tầng quan trọng, phát triển điện lực phải đi trước một bước,… có tầm nhìn dài hạn, hiệu quả, bền vững và đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết.
Thực hiện thành công chuyển đổi năng lượng công bằng gắn với hiện đại hóa sản xuất, xây dựng lưới điện thông minh, quản trị hệ thống điện tiên tiến, phù hợp với xu thế chuyển đổi xanh, giảm phát thải, phát triển khoa học công nghệ của thế giới.
Quy hoạch điện VIII đặt mục tiêu phát triển mạnh các nguồn năng lượng tái tạo phục vụ sản xuất điện. Định hướng đến năm 2050, tỷ lệ năng lượng tái tạo lên đến 67,5 - 71,5%. Kiểm soát mức phát thải khí nhà kính từ sản xuất điện đạt khoảng 204 - 254 triệu tấn năm 2030 và còn khoảng 27 - 31 triệu tấn vào năm 2050. Hướng tới đạt mức phát thải đỉnh không quá 170 triệu tấn vào năm 2030 (với điều kiện các cam kết theo JETP được các đối tác quốc tế thực hiện đầy đủ, thực chất).
Hình thành hệ sinh thái công nghiệp năng lượng tổng thể dựa trên năng lượng tái tạo, năng lượng mới.

Điện gió tại Ninh Thuận. Ảnh: Thạch Thảo
Dự kiến đến 2030, hình thành 2 trung tâm công nghiệp, dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng bao gồm: Sản xuất, truyền tải và tiêu thụ điện, công nghiệp chế tạo thiết bị năng lượng tái tạo, xây dựng, lắp đặt, dịch vụ liên quan; và xây dựng hệ sinh thái công nghiệp năng lượng tái tạo tại các khu vực có nhiều tiềm năng như Bắc bộ, Nam Trung bộ, Nam bộ.
Phát triển các nguồn điện từ năng lượng tái tạo và sản xuất năng lượng mới phục vụ xuất khẩu. Phấn đấu đến năm 2030, quy mô công suất xuất khẩu điện đạt khoảng 5.000 - 10.000 MW.
Việt Nam có tiềm năng lớn để xuất khẩu năng lượng điện tái tạo, đặc biệt là điện gió ngoài khơi và điện mặt trời cho các nước láng giềng như Campuchia, Singapore... Tuy nhiên thách thức cho nền công nghiệp điện gió ngoài khơi đối với Việt Nam là công nghệ và kinh nghiệm triển khai.
Nhu cầu vốn cho QHĐ 9, giai đoạn 2021-2030 ước tính tổng vốn đầu tư phát triển nguồn và lưới điện truyền tải tương đương 134,7 tỷ USD; định hướng giai đoạn 2031 -2050 ước tính nhu cầu vốn đầu tư phát triển nguồn và lưới điện truyền tải tương đương 399,2 - 523,1 tỷ USD. Trong đó, đầu tư cho nguồn điện khoảng 364,4 - 511,2 tỷ USD, lưới điện truyền tải khoảng 34,8 - 38,6 tỷ USD (sẽ được chuẩn xác trong các quy hoạch tiếp theo).
Phát triển điện lực theo nguyên tắc tối ưu tổng thể các yếu tố về nguồn điện, truyền tải điện, phân phối điện, sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả, có lộ trình phù hợp đi đôi với bảo vệ tài nguyên, môi trường và chuyển đổi mô hình kinh tế, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia với chi phí thấp nhất.
Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương hoàn thiện xây dựng và trình Chính phủ Luật Điện lực (sửa đổi) và Luật về Năng lượng Tái tạo để trình Quốc hội trong năm 2024. Trình Chính phủ ban hành các chính sách về mua bán điện trực tiếp.
QHĐ 8 đã đưa cụ thể danh mục các dự án nguồn điện lớn, ưu tiên quan trọng cấp quốc gia. Bản quy hoạch đã đưa ra tổng quy mô công suất phát triển các nguồn điện gió, mặt trời theo phạm vi 6 vùng và theo chu kỳ 5 năm, thuận tiện cho việc lập kế hoạch, điều hành, điều chỉnh và giám sát thực hiện quy hoạch.
Từ nghị quyết đến quy hoạch
Nhìn vào tổng thể QHĐ 8 đã bám sát nhiệm vụ chính trị, mục tiêu của nghị quyết 55-NQ/TW của Bộ Chính trị về Định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Trong đó nhấn mạnh “Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia; cung cấp đầy đủ năng lượng ổn định, có chất lượng cao với giá cả hợp lý cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống của nhân dân, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Ngành năng lượng phát triển hài hoà giữa các phân ngành với hạ tầng đồng bộ và thông minh, đạt trình độ tiên tiến của khu vực ASEAN. Xây dựng thị trường năng lượng cạnh tranh, minh bạch, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên năng lượng trong nước kết hợp với xuất, nhập khẩu năng lượng hợp lý; triệt để thực hành tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng. Chủ động sản xuất được một số thiết bị chính trong các phân ngành năng lượng; nâng cấp, xây dựng lưới điện truyền tải, phân phối điện tiên tiến, hiện đại”.

Thủy điện Hòa Bình. Ảnh minh họa: Hoàng Hà.
Bản quy hoạch hướng tới việc chuyển dịch năng lượng xanh, giảm tối đa năng lượng hóa thạch từ các nhà máy điện than, điện khí sang biomass, amoniac, khí trộn, hydro… vào cuối vòng đời các công trình dự án nhiệt điện, trước năm 2050. Lộ trình chuyển dịch cũng đề ra rõ ràng theo từng giai đoạn: kế hoạch đến 2030 và tầm nhìn 2050 được nhất thể hóa theo các mục tiêu rõ ràng như đã nêu trên.
Đến năm 2030:
Theo kịch bản phụ tải cao, nguồn điện đến năm 2030 tăng thêm 4,3 GW điện than (đều là các dự án đang được triển khai xây dựng), tỷ trọng điện than trong cơ cấu nguồn giảm từ 29% năm 2020 xuống còn 20,5% năm 2030, tương ứng với điện thương phẩm sản xuất nguồn điện than giảm từ 46,5% xuống còn 34,8% vào năm 2030. Bên cạnh đó điện khí tăng gần 450% từ 7,08GW lên 32GW vào năm 2030 cho thấy sự chuyển dịch mạnh mẽ từ nguồn phát thải lớn sang ít phát thải carbon hơn. Điện sản xuất từ nguồn điện khí có tỷ trọng tăng, năm 2020 từ 12,5% lên tới 25,5% vào năm 2030.
Năng lượng tái tạo cũng được quy hoạch tăng gần 200% từ 38,2GW năm 2020 lên đến 73,78%GW năm 2030, trong đó nguồn điện gió, mặt trời sinh khối tăng 255% lên đến 44,4GW. Điện sản xuất từ nguồn điện NLTT chiếm 36% vào năm 2030.
Đến năm 2050:
Tổng công suất các nguồn năng lượng tái tạo (gồm cả thủy điện) lên tới gần 400 GW, chiếm 69,8% tổng công suất nguồn điện với điện năng sản xuất chiếm tới 69% tổng sản xuất điện. Nguồn điện than chiếm 4,5% công suất nguồn và 5,3% sản lượng điện. Cùng với đó điện khí chiếm 7% công suất nguồn và 15,7% sản lượng điện và có lộ trình chuyển dần sang khí trộn, hydro
Kế thừa và phát huy thành quả
Do nhiều yếu tố khách quan và sự phụ thuộc vào công nghệ và tài chính, năng lượng điện tái tạo (điện gió và điện mặt trời) được quan tâm phát triển từ sau năm 2015-2016 sau khi Quy hoạch điện 7 điều chỉnh được ban hành. Các chính sách khuyến kích phát triển điện mặt trời và điện gió sau đó đã đạt được kết quả rất đáng ghi nhận khi nhìn vào tổng công suất nguồn điện gió và điện mặt trời đưa vào vận hành cuối năm 2020 và tháng 11/2021 chiếm 26.7% công suất nguồn đạt 21.6GW (bao gồm điện mặt trời mái nhà).
Không thể không ghi nhận những nỗ lực của Chính phủ và các bộ ngành trong việc biến Việt Nam từ con số 0 trên bản đồ thế giới thành 1 trong những cường quốc về tỷ trọng điện năng lượng tái tạo. Có được thành quả đó xuất phát từ quan điểm đột phá và tư duy dám làm của Chính phủ tiền nhiệm cũng như các bộ ngành liên quan. Thành quả về năng lượng điện tái tạo của QHĐ 7 sẽ là tiền đề cho việc thực hiện các mục tiêu về chuyển dịch năng lượng xanh bằng chính năng lực nội tại của quốc gia.
Sự hình thành hệ sinh thái công nghiệp năng lượng với trọng tâm là năng lượng tái tạo sẽ giúp cho Việt nam chủ động trong việc thực hiện hiệu quả các mục tiêu của QHĐ 8.
Vốn, công nghệ và lực lượng lao động (đã được hình thành trong những năm qua) là 3 yếu tố cơ bản để đẩy nhanh sự hình thành hệ sinh thái công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới được mà QHĐ 8 đã đề ra.
Thách thức về nhiên liệu sạch hiện là áp lực lớn đối với chúng ta, một số công nghệ còn đang ở quy mô nghiên cứu, thí nghiệm và quyền sở hữu thuộc ở 1 vài quốc gia, chưa thương mại hóa và phổ biến, giá thành còn cao, nhưng xu thế là các công nghệ sẽ phát triển nhanh cùng với giảm giá thành. Việc tranh thủ cam kết quốc tế về chuyển giao công nghệ để hướng tới làm chủ công nghệ cần phải được chú trọng. Điều thuận lợi là không riêng Việt Nam mà có gần 150 quốc gia đã cam kết chống biến đổi khí hậu bằng đưa phát thải khí nhà kính Zero vào năm 2050, công nghệ và nhiên liệu sạch sẽ thúc đẩy và sớm phổ biến rộng rãi và phổ cập đáp ứng mạnh mẽ nhu cầu trên toàn cầu.

Thách thức về nhiên liệu sạch hiện là áp lực lớn với chúng ta. Ảnh minh hoạ: Thạch Thảo
Sự quan tâm và sẵn sàng đầu tư của nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước trong lĩnh vực năng lượng điện tái tạo tại Việt Nam là một thuận lợi cho mục tiêu chuyển dịch năng lượng. Các chính sách, hành lang pháp lý minh bạch, rõ rành và cam kết mạnh mẽ từ chính phủ về tính ổn định nhất quán trong chính sách sẽ là yết tố kiên quyết trong việc thu hút đầu tư, khơi thông nguồn vốn từ khu vực tư nhân và các thỏa thuận hợp tác quốc tế. Trong đó cần cập nhật, tận dụng tối đa vốn hỗ trợ Việt Nam trong Thỏa thuận Đối tác Chuyển dịch Năng lượng Bình đẳng (JETP), với quy mô 15,5 tỷ USD trong 3 đến 5 năm tới để đẩy sớm đỉnh phát thải CO2 vào năm 2030 và sau đó giảm dần phát thải…
Xây dựng các Doanh nghiệp hạt nhân trong lĩnh vực phát triển năng lượng tái tạo 
Theo đánh giá của tổ chức quốc tế, PVN có nhiều điều kiện thuận lợi để tham gia vào chuỗi phát triển điện gió ngoài khơi, có thể thực hiện hầu hết các khâu và công đoạn, ngoại trừ Turbin và Trạm biến áp.
Ngoài Tập đoàn EVN có nhiệm vụ chính trị trực tiếp trong lĩnh vực năng lượng điện, chính phủ cần có chính sách kêu gọi một số tập đoàn nhà nước như Viettel, PVN… một số tập đoàn tư nhân có năng lực tài chính có ảnh hưởng trong việc đàm phát chuyển giao công nghệ như Vingroup… tham gia xây dựng đội ngũ lao động, đầu tư tài chính, nghiên cứu công nghệ và đàm phán chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực dịch chuyển năng lượng tái tạo.
Nên chăng thành lập cơ quan đủ quyền lực để thực hiện các nhiệm vụ; phát triển và chuyển dịch năng lượng sạch, xây dựng các chính sách quản lý, thành lập các trung tâm khoa học nghiên cứu công nghệ; thiết lập và phát triển hạ tầng sinh thái công nghiệp năng lượng xanh hỗ trợ đáp ứng yêu cầu Chuyển dịch năng lượng Bình đằng nhằm bảo hộ và phát triển nền sản xuất trong nước hướng tới xuất khẩu.
Việt Nam là nước sẽ chịu nhiều tác động xấu của biến đổi khí hậu, thiên tai, nước biển dâng, cần tham gia với cộng đồng quốc tế chống biến đổi khí hậu, không thể đứng ngoài cuộc. Việc chuyển dịch năng lượng của Việt Nam là tất yếu khi mà các thị trường xuất khẩu lớn của Việt nam như Mỹ, châu Âu đã áp dụng cơ chế giám sát về “dấu chân carbon”, bổ sung thêm thuế carbon nếu không chuyển dịch sang hướng “xanh”. 
Kịch bản Zero Carbon năm 2050 xem xét thêm khía cạnh của Chiến lược phát triển rừng bền vững của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn. Tỷ lệ hấp thụ CO2 từ chính sách trồng rừng, làm giầu rừng, tăng mật độ che phủ đi đôi với bảo vệ rừng cần phải đưa vào trọng tâm nhiệm vụ của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2030 và định hướng 2050.
Hướng đến nền kinh tế xanh
Có thể thấy, QHĐ 8 được ban hành đã đáp ứng mong mỏi của của người dân và doanh nghiệp sau thời gian dài chờ đợi. Bởi đây không chỉ là chính sách quan trọng cho sự phát triển của ngành điện mà còn nhiều lĩnh vực khác. 
Đặc biệt, với ngành điện, việc ban hành QHĐ 8 là cơ sở quan trọng trong việc triển khai các giải pháp để đạt mục tiêu mà quy hoạch này đề ra. Từ đó hướng đến nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp, đảm bảo phát triển bền vững.
Công tác xã hội hóa, thu hút các nguồn lực xã hội, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân trong nước vào phát triển năng lượng điện nói chung và năng lượng tái tạo nói riêng trong thời gian qua là một kết quả đạt được rất quan trọng, đặc biệt là trong điều kiện đầu tư phát triển cho lĩnh vực này đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, ngân sách nhà nước và đầu tư từ khu vực nhà nước không thể đáp ứng được nhu cầu.
Nhờ có những cơ chế chính sách vừa qua mà chúng ta đã hình thành nên hình hài một số trung tâm năng lượng sạch ở một số vùng miền, là tiền đề rất căn bản cho thực hiện định hướng xây dựng các trung tâm công nghiệp, dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng như quy hoạch điện VIII đề ra.
Theo Vietnamnet

Cùng chuyên mục

Số hóa dịch vụ điện năng: Nhân tố giúp PC Vĩnh Phúc nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng

19/06/2024

Từ nhiều năm qua, bên cạnh việc luôn đảm bảo cung ứng điện năng phục vụ phát triển kinh tế- xã hội địa phương, Công ty Điện lực Vĩnh Phúc (PC Vĩnh Phúc) còn xác định công tác kinh doanh – dịch vụ khách hàng là khâu then chốt có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị.

  • 0
  • 0

giá điện sinh hoạt

Mức sử dụng trong tháng Giá (đồng/kWh)
Bậc 1: Cho kWh từ 0 - 50 1.806
Bậc 2: Cho kWh từ 51 - 100 1.866
Bậc 3: Cho kWh từ 101 - 200 2.167
Bậc 4: Cho kWh từ 201 - 300 2.729
Bậc 5 Cho kWh từ 301 - 400 3.050
Bậc 6: Cho kWh từ 401 trở lên 3.151