Bộ Công Thương - Cục điều tiết điện lực

Thứ hai, 20/05/2024 | 21:49 GMT +7

  • facebook | 024.221.47474

Phát triển năng lượng

Quy hoạch hạ tầng, kho cảng không đồng bộ là rào cản phát triển điện khí LNG

18/12/2023
​Tham luận tại diễn đàn “Tiềm năng phát triển thị trường điện khí tại Việt Nam” mới đây, ông Mai Xuân Ba - Trưởng Ban đầu tư Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS) cho biết, các quy hoạch ngành, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất của các tỉnh/thành phố hiện chưa cập nhật phù hợp Quy hoạch điện VIII. Đây chính là rào cản lớn khi triển khai hệ thống đường ống dẫn khí, kho cảng LNG tại Việt Nam.
Ông Mai Xuân Ba cho biết, theo Quy hoạch điện VIII vừa được phê duyệt, đến năm 2030, điện khí LNG sẽ đạt 37.330 MW, tương ứng 24,8% tổng công suất nguồn điện, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu nguồn điện (trong đó nhiệt điện khí trong nước là 14.930 MW chiếm 9,9% và nhiệt điện LNG là 22.400 MW chiếm 14,9%).
Với cơ cấu nguồn điện như trên, cùng với định hướng đến năm 2050 không còn sử dụng than cho phát điện thì vai trò chạy nền của các nhà máy điện khí trong hệ thống điện là điều tất yếu vì là nguồn điện duy nhất không bị ảnh hưởng bởi thời tiết so với thủy điện, điện gió và điện mặt trời.
Ngoài ra, lợi thế của các nhà máy điện khí là tính sẵn sàng cao, công suất lớn với dải điều chỉnh rộng, thời gian đáp ứng nhanh, giảm thiểu phát thải khí nhà kính CO2, đặc biệt giảm thiểu khí gây ô nhiễm SOx, NOx so với các nhà máy điện chạy than và dầu. Việc đưa LNG vào sử dụng còn là phù hợp với cam kết của Chính phủ tại COP26 và xu hướng sử dụng nhiên liệu giảm phát thải.
Như vậy, có thể khẳng định rằng việc nhập khẩu LNG cho sản xuất điện là xu hướng tất yếu, không thể đảo ngược.
Ông Ba cũng cho rằng, xu hướng chuyển sang khí LNG cũng chính là cơ hội để PV GAS tiếp tục nỗ lực dẫn đầu xu thế chuyển dịch xanh trong lĩnh vực công nghiệp khí.

Ông Mai Xuân Ba - Trưởng Ban đầu tư PV GAS tham luận tại diễn đàn
Chia sẻ về phát triển điện khí LNG, đại diện PV GAS cho biết, kho cảng LNG Thị Vải tại khu vực Đông Nam Bộ được đưa vào vận hành từ tháng 7/2023 với công suất giai đoạn 1 là 1 triệu tấn/năm, tương đương 1,4 tỷ Sm3/năm. PV GAS đang triển khai giai đoạn 2 nâng công suất lên 3 triệu tấn/năm, tương đương 4,2 tỷ Sm3/năm, đưa vào vận hành năm 2026.
Ở khu vực Nam Trung Bộ, PV GAS cùng với Tập đoàn AES Hoa Kỳ đang triển khai dự án Kho cảng LNG Sơn Mỹ để đưa vào vận hành, khai thác từ năm 2026 với công suất giai đoạn 1 là 3,6 triệu tấn/năm và giai đoạn 2 nâng công suất lên 6 triệu tấn/năm.
Đối với khu vực Bắc/Bắc Trung Bộ, PV GAS đang tìm kiếm cơ hội đầu tư với dự án đầu tư giai đoạn 1 là 3 triệu tấn và giai đoạn 2 là 6 triệu tấn.
Cũng theo ông Mai Xuân Ba, cơ hội là vậy, song trên thực tế, trong quá trình kinh doanh, phát triển điện khí LNG tại Việt Nam nói chung và PV GAS nói riêng vẫn còn gặp khá nhiều khó khăn, vướng mắc cần được Chính phủ, bộ, ngành quan tâm tháo gỡ.
Theo đó, Quy hoạch điện VIII nêu rõ, đến năm 2030 có 13 nhà máy điện khí LNG được đưa vào vận hành. Tuy nhiên, phần lớn các nhà đầu tư có xu hướng triển khai dự án theo cấu hình: “1 trung tâm điện lực (nhà máy điện) + 1 kho cảng nhập LNG”. Điều này, đồng nghĩa với việc có bao nhiêu trung tâm điện lực (nhà máy điện) thì sẽ xuất hiện bấy nhiêu kho cảng nhập LNG phủ kín dọc theo suốt chiều dài bờ biển Việt Nam. Việc này dẫn đến không thể tận dụng hết nguồn lực hạ tầng sẵn có, lãng phí tài nguyên cảng biển, khó kết nối tạo thành một hệ thống hạ tầng LNG tổng thể chung.
Bên cạnh đó, hệ thống đường ống khí hiện nay chỉ tập trung ở Khu vực Đông Nam Bộ và một hệ thống nhỏ ở Bắc Bộ không bảo đảm liên kết vùng nên cần được đầu tư mạnh theo một quy hoạch tối ưu nhằm bảo đảm liên kết vùng, giúp hỗ trợ phân phối linh hoạt khi xuất hiện tình trạng thiếu khí cục bộ. Thông qua hệ thống phân phối khí đã đồng bộ và kết nối chặt chẽ, LNG nhập khẩu thông qua các kho LNG trung tâm có thể trở thành nguồn cung ổn định cho tất cả khu vực trong cả nước.
“Dự án LNG cần diện tích đất, mặt nước lớn, các dự án đường ống dẫn khí đi qua nhiều địa bàn dân cư và yêu cầu có diện tích đất lớn để bố trí hành lang tuyến ống theo quy định. Trong khi đó, hiện nay các quy hoạch ngành, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất của các tỉnh/thành phố chưa cập nhật phù hợp Quy hoạch điện VIII nên dẫn tới khó khăn liên quan đến việc xin chấp thuận chủ trương đầu tư, thủ tục đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, cấp phép xây dựng thỏa thuận địa điểm/hướng tuyến… tốn nhiều thời gian và rủi ro kéo dài tiến độ dự án. Đây chính là rào cản, ảnh hưởng lớn đến việc đầu tư hệ thống đường ống dẫn khí, kho cảng LNG tại Việt Nam", ông Mai Xuân Ba cho biết thêm.
Về mặt cơ chế chính sách, ông Ba cho rằng, hiện nay chưa có cơ chế chính sách được cơ quan có thẩm quyền thông qua, bao gồm chuyển ngang giá khí LNG tái hóa và bao tiêu khối lượng khí từ hợp đồng mua bán khí sang hợp đồng mua bán điện, phê duyệt cước phí qua kho và đường ống đưa LNG đến nhà máy điện, nguyên tắc phân bổ LNG nhập khẩu cùng với các nguồn khí nội địa cho các nhà máy điện.
Chưa có đầy đủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia về LNG để bảo đảm việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật LNG bảo đảm an toàn phù hợp với các thông lệ quốc tế. Vì vậy, cần phải rà soát, cập nhật, bổ sung và xây dựng đầy đủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia về LNG, tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho việc thực hiện phát triển các dự án điện khí (LNG) và thị trường LNG trong tương lai.

LNG nhập khẩu thông qua các kho LNG trung tâm có thể trở thành nguồn cung ổn định cho tất cả khu vực trong cả nước (Ảnh minh họa)
Bên cạnh đó, đến năm 2050, nhiệt điện khí trong nước chuyển sang sử dụng LNG chỉ có 7.900MW (chiếm từ 1,4-1,6% tổng công suất các nhà máy điện) trong khi các nguồn nhiệt điện khác bắt buộc phải chuyển hết qua hydro lên đến mức từ 23.430-27.930 MW (4,5-5% tổng công suất các nhà máy điện). Như vậy, số lượng các dự án khí trong nước/kho cảng LNG mới hoàn thành vào năm 2030, sẽ chỉ có khoảng 20 năm vận hành khi nhà máy điện buộc phải chuyển sang chạy hoàn toàn bằng hydro không nhỏ. Vòng đời dự án ngắn hơn mức tối thiểu thông thường của các dự án khí là 30 năm sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của nhà đầu tư.
Từ những bất cập nêu trên, để phát triển điện khí LNG tại Việt Nam, đại diện PV GAS kiến nghị để tối ưu đầu tư hạ tầng kho chứa, cảng biển giúp giảm cước phí, giá khí LNG tái hóa và giảm giá thành phát điện cần xem xét triển khai xây dựng các kho LNG theo mô hình “Kho cảng LNG trung tâm cung cấp cho các trung tâm nhiệt điện vệ tinh”.
Về sự phù hợp giữa các quy hoạch, ông Mai Xuân Ba cũng kiến nghị các bộ ngành và địa phương cần rà soát bảo đảm tính đồng bộ, gắn kết giữa các quy hoạch và kế hoạch thực hiện các quy hoạch. Trong đó có Quy hoạch điện VIII, Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia, Quy hoạch hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu khí đốt quốc gia. Cùng với đó là Quy hoạch tổng thể hệ thống cảng biển và Quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển, bến cảng cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước; các quy hoạch địa phương đặc biệt là quy hoạch kế hoạch sử dụng đất.
“Để triển khai đầu tư hạ tầng nhập khẩu LNG theo đúng quy hoạch, Chính phủ cần xây dựng các cơ chế chính sách liên quan đến cấp khí LNG tái hóa cho các nhà máy điện như cơ chế chuyển ngang giá khí LNG tái hóa và bao tiêu khối lượng khí từ hợp đồng mua bán khí sang hợp đồng mua bán điện. Đặc biệt, Nhà nước cũng cần phê duyệt cước phí qua kho, cước phí đường ống”, ông Mai Xuân Ba đề xuất.
PV GAS là đơn vị thành viên của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp khí. Được thành lập ngày 20/9/1990, với bề dày kinh nghiệm hơn 33 năm hoạt động trong lĩnh vực thu gom, vận chuyển, chế biến, tồn trữ, kinh doanh khí và các sản phẩm khí, PV GAS luôn tự hào là đơn vị dẫn đầu, lá cờ đầu của Petrovietnam - Doanh nghiệp chủ lực của ngành công nghiệp khí nước nhà. Hàng năm, PV GAS cung cấp khí đầu vào để sản xuất trên 9% sản lượng điện, 70% nhu cầu đạm toàn quốc và đáp ứng gần 70% sản lượng LPG cả nước, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và lương thực quốc gia. PV GAS có nhiều thế mạnh để ngày càng phát huy vai trò phát triển, dẫn dắt lĩnh vực công nghiệp khí của Việt Nam.
Theo Petrotimes  

Cùng chuyên mục

  • 0
  • 0

giá điện sinh hoạt

Mức sử dụng trong tháng Giá (đồng/kWh)
Bậc 1: Cho kWh từ 0 - 50 1.806
Bậc 2: Cho kWh từ 51 - 100 1.866
Bậc 3: Cho kWh từ 101 - 200 2.167
Bậc 4: Cho kWh từ 201 - 300 2.729
Bậc 5 Cho kWh từ 301 - 400 3.050
Bậc 6: Cho kWh từ 401 trở lên 3.151